BẢO VẬT QUỐC GIA VIỆT NAM NĂM 2019 (Phần 2)

Dưới đây là 27 hiện vật, nhóm hiện vật là bảo vật quốc gia đợt 8, đợt xét duyệt năm 2019 vừa được Thủ tướng chính phủ công nhận (phần 2)

Xem phần 1 tại đây: https://vietnamarchaeology.net/2020/05/16/bao-vat-quoc-gia-viet-nam-2019-phan-1/

14.BIA LĂNG VUA LÊ TÚC TÔNG

– Niên đại: Thế kỷ XVI; hiện lưu giữ tại Di tích lịch sử Lam Kinh, tỉnh Thanh Hóa

“Đại Việt Lam Sơn Kính Lăng bi – Bia Lăng Vua Lê Túc Tông” có niên đại Thế kỷ XVI, hiện được lưu giữ tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Vua Lê Túc Tông (1488 – 1505) là vị hoàng đế thứ bảy của Hoàng triều Lê nước Đại Việt. Vua Lê Túc Tông chỉ giữ ngôi trong vòng 6 tháng (từ ngày 17/7/1504 – đến khi mất ngày 12/1/1505).

Lê Túc Tông tên thật là Lê Thuần, là con trai thứ ba của Lê Hiến Tông. Vì thông minh, hiếu học nên được vua cha lập làm Hoàng thái tử. Tháng 7/1504, sau khi Lê Hiến Tông chết, Lê Túc Tông lên ngôi Hoàng đế.

Theo bộ sử biên niên của nhà Lê, Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lê Túc Tông gần gũi với người hiền, thích điều thiện và là vị vua giỏi giữ cơ nghiệp thái bình. Túc Tông cũng dẹp yên cuộc nổi dậy của Đoàn Thế Nùng và 500 thủ hạ ở Cao Bằng.

Tháng 12 năm 1504, Lê Túc Tông bệnh nặng. Do không có con nối dõi, Túc Tông chỉ định người anh thứ 2 là Lê Tuấn kế ngôi, tức Lê Uy Mục. Lê Túc Tông là vị vua cuối cùng của giai đoạn thịnh trị của triều Lê.

bialangvualetuctong-1579683840959472472560

15.BIA SÙNG CHỈ BI KÝ

– Niên đại: năm 1696; hiện lưu giữ tại đền thờ Hà Tông Mục, xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

Bia Sùng Chỉ được dựng vào năm 1696 là hiện vật cổ quý hiếm, độc bản gắn với danh nhân Hà Tông Mục. Hiện trạng bia còn tương đối nguyên vẹn, chỉ bị phong hóa một ít về phía Đông.

Theo ông Hà Văn Sỹ – người đại diện cho dòng họ Hà ở xã Tùng Lộc (Can Lộc), chủ sở hữu hợp pháp hiện vật bia Sùng Chỉ, căn cứ vào nội dung văn bia, gia phả họ Hà – Tùng Lộc và một số tài liệu lịch sử, bia được dựng vào năm Chính Hòa thứ 17 (1696) theo đề nghị của quan viên chức sắc và nhân dân 4 thôn (Mông Tiết, Trung Hậu, Vinh Phúc, Hựu Phúc), thuộc xã Tỉnh Thạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang nhằm ghi nhận công lao sự nghiệp của Hà Tông Mục đối với đất nước và quê hương.

biasunghci-1579683888824276514773

16.BIA NGỰ KIẾN THIÊN MỤ TỰ

– Niên đại: năm 1715; hiện lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế

Bia “Ngự Kiến Thiên Mụ Tự” (bia linh mụ) của chúa Nguyễn Phúc Chu viết năm 1714, chữ còn rất rõ, bia rất đẹp, hiện để ở trong nhà bi tại chùa Thiên Mụ. Bia “Ngự Chế Thiên Mụ Tự, Phước Duyên Bảo Tháp bi” của vua Thiệu Trị viết, khắc và dựng năm Thiệu Trị thứ 6 (1843), hiện còn trong nhà bia ở chùa Thiên Mụ.

biathienmutu1-15796839343301048098621

17. MƯỜI HAI BIA TIẾN SĨ VĂN MIẾU BẮC NINH

– Niên đại: năm Kỷ Sửu, niên hiệu Thành Thái – 1889; hiện lưu giữ tại di tích Văn Miếu Bắc Ninh, phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Giống như Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội, Văn miếu Bắc Ninh thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền. Không những thế, đây còn là nơi đặt các bảng vàng bia đá khắc tên của các nhân tài đỗ đạt trong các khoa cử thời phong kiến.

Nét đặc sắc nhất của Văn miếu Bắc Ninh chính là 15 tấm bia đá, trong đó, 12 bia “Kim bảng lưu phương” được dựng năm 1889, lưu danh gần 700 vị đại khoa quê hương Kinh Bắc là những người làm rạng rỡ truyền thống hiếu học khoa bảng và có công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, phát triển văn hóa Việt Nam.

biavanmieubacninh-15796840112171870959152

18. BỘ CHÓP THÁP CHAMPA LINH THÁI

– Niên đại: Thế kỷ XII – XIII; hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên – Huế

Đây là những cổ vật Chăm pa tiêu biểu, cùng với bệ thờ Vân Trạch Hòa đã được công nhận là bảo vật quốc gia.

Các hiện vật được nhắc đến là chóp và đế chóp tháp Chăm pa. Có thể cả hai hiện vật này là một phần của cấu trúc chóp tháp Chăm chồng lên nhau bởi phần đế và phần chóp tháp có cấu trúc đồng dạng và kích thước tương đồng. Chóp tháp chạm khắc hình búp sen – mô típ thường thấy trong các công trình điêu khắc Chăm pa. Điểm khác biệt giữa chóp tháp núi Linh Thái so với một số chóp tháp Chăm pa khác là ở 2/3 chóp tháp có đục 4 lổ tròn ở 4 hướng, đường kính 4cm, sâu 5cm.

Chóp tháp ở núi Linh Thái được chế tác từ sa thạch – một loại đá cứng dùng phổ biến trong các công trình kiến trúc điêu khắc Chăm. Chóp tháp chế tác theo hình thức đục dọc theo phiến đá tạo thành các đường gờ có hình quả khế và được chạm khắc 8 múi cách đều nhau, gồm 4 cánh lớn và 4 cánh nhỏ, nên người dân địa phương vẫn thường gọi là “chóp tháp hình múi khế”. Thực chất đây là hình của một búp sen cách điệu, phía dưới phần đế là 8 cánh sen đang nở ra, hai phần này úp vào nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất.

bochoplinhthai-1579684150372570841849

19.THỐNG ĐỒNG THỜI TRẦN

– Niên đại: Thế kỷ XIII – XIV; hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh

Thống đồng là hiện vật bằng kim loại, có niên đại khoảng thế kỷ XIII – XIV, là vật dụng lễ khí (tế khí) sử dụng trong các hoạt động nghi lễ (tế lễ) của đời sống cung đình (miếu/đường) thời Trần. Đây là hiện vật có hình thức độc đáo, hoa văn trang trí điển hình văn hóa nhà Trần và là tác phẩm nghệ thuật quý hiếm.

thongodngquangninh-15796842392921276705645

20.MÂM BỒNG GỐM MEN VẼ NHIỀU MÀU

– Niên đại: thời Lê sơ – Thế kỷ XV; hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh

Mâm bồng gốm men vẽ nhiều màu là hiện vật bằng gốm, có niên đại khoảng thế kỷ XV, được sử dụng để đặt các lễ vật trong các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là hiện vật có hình thức độc đáo với phần trên mặt trong và ngoài hiện vật được trang trí 42 cánh sen tạo tổ hợp các dải băng hoa sen đơn và kép với các lớp so le giống hình một bông hoa sen đang nở rộ. Hiện vật là một tác phẩm nghệ thuật nổi trội về giá trị thẩm mỹ, khẳng định bước phát triển đột biến trong kỹ thuật, mỹ thuật của người thợ gốm.

mambonggommen-1579684271188725557836

21/KHÁM THỜ GỖ SƠN SON THẾP VÀNG

– Niên đại: Thế kỷ XVI; hiện lưu giữ tại Di tích đền – chùa Bà Tấm, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội

 

Khám thờ chạm rồng uốn khúc yên ngựa được chạm thủng hoa văn linh vật từ thời Mạc

khamthogochuabatam-15796842711861858878280

22. NGAI THỜ GỖ SƠN SON THẾP VÀNG

– Niên đại: Thế kỷ XVII; hiện lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thái Bình

23.CỬA VÕNG ĐÌNH DIỀM

– Niên đại: Thế kỷ XVII; hiện lưu giữ tại đình Diềm, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Bức cửa võng đình Diềm có chiều cao 7m từ thượng lương xuống sát nền đình, gồm nhiều tầng, tạo ra thành nhiều lớp lang. Tầng trên cùng là một tấm ván chạy suốt chiều rộng của gian giữa, chạm thủng 4 hình con rồng bò vào phía trung tâm chầu mặt trời, bốn cô Tiên cưỡi trên lưng rồng, hai tay giang ngang trong động tác múa uyển chuyển.

Tầng thứ hai có độ cao 5,7m đến 6,5m tính từ mặt nền, phía trên có ba lớp diềm sòi chạm thủng, phần giữa chia làm ba khoang lớn, xen vào giữa bốn khoang nhỏ, có sáu cột khoang chạm lộng hình rồng. Chính giữa mỗi cửa khám từ trong nền nhô ra đầu một đầu tiên nữ mắt phượng mày ngài, mũi dọc dừa, miệng mỉm cười tươi, tóc vương trước trán, tai to, dài như tai Phật. Lớp dưới của tầng thứ 2 chạm một dải cánh sen chồng xếp rất tinh tế….

Cửa võng ở đình Diềm được trang trí kỹ lưỡng làm nổi bật, thu hút mọi người từ khi mới bước vào cửa đình. Các cột rồng được sử dụng kỹ thuật chạm lộng hết sức tinh xảo, các lớp cột rồng xoắn xít vào sâu tạo lớp lang tầng tầng lớp lớp, hình rồng luồn lách lúc ẩn lúc hiện tới chín tầng ăn sâu vào trong. Phía ngoài trang trí chạm thủng tạo thành những đường diềm chạy dài được ngăn bởi mảng chạm dọc theo thân cột cái, điểm nhấn của đình chính là bộ cửa võng uy nghi lộng lẫy. Nếu bóc tách những mô típ rồng ra khỏi thành phần kiến trúc chắc sẽ giảm giá trị nghệ thuật đi rất nhiều.

cuavongdinhdiem-1579684383478307358935

24.BỘ PHỦ VIỆT ĐỀN THỜ VUA ĐINH TIÊN HOÀNG

(Niên đại: Thế kỷ XVII; hiện thờ tại đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).

Nằm ở trung tâm thành Đông của kinh đô Hoa Lư xưa (nay thuộc xã Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình), đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng là một di tích có tầm quan trọng đặc biệt của của quần thể di sản cố đô Hoa Lư.

Ðền được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 17 theo kiểu đăng đối trên trục thần đạo. Công trình bắt đầu bằng một hồ bán nguyệt nằm bên chân núi Mã Yên. Sau hồ là bức bình phong mang tính chất phong thủy của kiến trúc truyền thống.

phuvietdinhtienhoang1-15796844190851719792327

 

25.BỘ PHỦ VIỆT ĐỀN THỜ VUA LÊ ĐẠI HÀNH

(Niên đại: Thế kỷ XVII; hiện thờ tại đền thờ Vua Lê Đại Hành, Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).

Đền thờ vua Lê Đại Hành được xây dựng trên nền cung điện xưa của Kinh đô Hoa Lư, đền quay hướng Đông, lấy núi Đèn làm án, cách đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng khoảng 200m về phía Bắc.

Đền thờ vua Lê Đại Hành được xây dựng vào thế kỷ 17, có kiến trúc theo kiểu “Nội công ngoại quốc”. Cũng giống như đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, đền thờ vua Lê Đại Hành có ba tòa: Bái Đường, Thiêu Hương và Chính cung. Bái Đường thờ công đồng; Thiêu Hương thờ tứ trụ triều Lê; Chính cung thờ vua Lê Đại Hành, hoàng hậu Dương Vân Nga, Lê Long Đĩnh – con thứ năm của vua Lê Đại Hành và là đời vua thứ ba của nhà Tiền Lê.

le-dai-hanh-15796857619171421760863

26.LONG ĐAO

– Niên đại: Thế kỷ XVII – XVIII; hiện lưu giữ tại Khu di tích tưởng niệm Vương triều Mạc, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng

Vào năm 1938, thanh Đại Long Đao (còn được gọi là Định Nam Đao) của vương triều nhà Mạc (thế kỷ 15-16) đã được phát hiện sau nhiều thế kỷ bị chôn vùi trong lòng đất.

Thanh Long đao này dài tới 2,55m với cán đao bằng sắt rỗng dài 1,60m, lưỡi dài 0,95m. Mặc dù bị han rỉ và sứt mẻ nhưng vẫn giữ được hình dáng khá nguyên vẹn.

Điều này cũng đồng nghĩa với việc Đại Long đao của Vương triều Mạc hoàn toàn có thể nặng tương đương với Thanh Long Yển Nguyệt Đao của Quan Vũ.

Theo các tài liệu thu thập thì cây Đại Long đao này được cho là của Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung, 1483-1541).

Đáng chú ý, đây là một cây đao hoàn toàn có thật thay vì mang tính chất truyền thuyết giống “báu vật” của Quan Vũ.

dailongdaohomac-15796846886161540905177

27. ẤN LƯƠNG TÀI HẦU CHI ẤN

– Niên đại: Thế kỷ XIX; hiện lưu giữ tại Bảo tàng TP HCM

Ấn được đúc bằng đồng. Mặt ấn: Có 5 chữ Hán được khắc nổi, ngược theo thể chữ triện, xếp theo 3 hàng dọc (hàng giữa 1 chữ, 2 hàng bên 2 chữ) khi in ra đọc được là “Lương Tài Hầu chi ấn”.

Nét chữ dày 0,2cm theo thể chữ triện đứng, 4 chữ ở 2 hàng bên có kích thước bằng nhau đều cao 2,6cm; ngang 1,6cm riêng chữ ở giữa lớn hơn 1,5 lần chữ bên, kích thước đo được cao 3,9cm; ngang 1,9cm. Viền mặt ấn rộng 0,8cm.

Dựa vào dòng chữ ghi trên lưng ấn “Minh Mệnh thập tứ niên cát nguyệt nhật tạo”có thể xác định niên đại của ấn được đúc vào ngày tháng tốt năm Minh Mệnh thứ 14 – 1833 và chữ khắc trên mặt ấn là “Lương Tài Hầu chi ấn” thì rõ ràng đây là chiếc ấn của Hầu tước Lương Tài.

Núm thẳng là loại ấn được ban cấp cho công thần không phải dòng dõi hòang tộc. Khi bỏ chiếc ấn này lên cân bằng đơn vị đo trọng lượng mới thì chiếc ấn này nặng 625g.

anluongtaihauchian-15796847570351473558686

 

Nguon: https://nld.com.vn/

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s