Anthony Reid và nền sử học Việt Nam

Ngày hôm nay ở Singapore thật nhiều sự kiện học thuật, và nhiều nhà nghiên cứu đã bày tỏ sự bối rối về việc nên ưu tiên tham gia sự kiện nào vì đó đều là các event với sự tham dự của nhiều học giả lớn của thế giới: 1. Ra mắt công trình mới của ISEAS Singapore về Anthony Reid và nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á, và 2. Seminar của giáo sư Leonard Andaya về Leaves of the same tree tại NUS. Nhiều người đã bày tỏ sự bối rối thực sự của mình vì không muốn bỏ qua event nào, và cảm thấy tiếc vì tại sao hai event lại diễn ra trùng thời gian như vậy. Bản thân tôi thì quyết định ngay từ đầu là sẽ tham dự event ra mắt sách của giáo sư Anthony Reid, một phần bởi vì ông là một trong những sử gia nổi tiếng nhất thế giới về lịch sử Đông Nam Á thời kỳ tiền hiện đại, nhưng quan trọng hơn là nó nhắc nhở tôi về một nhà nghiên cứu đã có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành và phát triển của Nhóm nghiên cứu Thương mại châu Á nói riêng, cũng như là nền sử học Việt Nam gần đây nói chung. Tôi sẽ nói rõ hơn về hai vấn đề này ở phần tiếp theo đây.

1. Một số nét khái quát về cuộc đời của Anthony Reid. (Phần này dựa theo những thông tin được cung cấp trong bài viết của Geoff Wade và Li Tana về A.Reid trong cuốn sách vừa xuất bản, kết hợp với những thông tin thu thập trong event)

Anthony Reid (tên thân mật là Tony), là một người New Zealand. Ông học đại học và master tại Wellington University, New Zealand. Sau đó, ông cùng bạn gái (và sau này là soulmate) của mình là Helen, đã đến Châu Âu để lấy bằng Tiến Sĩ. Đề tài luận án tiến sĩ của ông là về political history of Aceh (nơi chúng ta thường biết đến qua các trận động đất và xung đột). Sau khi lấy bằng Tiến sĩ, ông và Helen đã mua một xe Wolkswagen van và đi khám phá rất nhiều miền đất xuyên qua đại lục địa Á Âu, từ Nam Tư đến Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông, Jerusalem, Damascus và Baghdad… Lúc này, Malaysia mới độc lập được hai năm, và trường Đại học Malaya đang cần tuyển giảng sư cho Khoa Lịch sử. Tony đã tận dụng cơ hội này để trở thành giảng sư của trường và đến gần hơn với nơi mà ông đã nghiên cứu lưu trữ hàng năm trời cho Luận án của mình là Aceh (Cách nhau eo biển Malacca). Tony, cùng với những tên tuổi lớn khi ấy (và cho đến ngày nay) như Wang Gungwu, David Wyatt…đã đặt nền móng cho nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á tại đây. Sau đó Tony đã trải qua nhiều vị trí quan trọng tại nhiều trung tâm học thuật hàng đầu của thế giới về Lịch sử Đông Nam Á. Những năm 1970s và 1980s, thời kỳ hoàng kim của ngành Đông Nam Á học ở Australia, Tony cùng với Wang Gungwu đã trở thành một thành viên của Đại học Quốc gia Úc (ANU) và thúc đẩy nghiên cứu Đông Nam Á tại đây. Cuối những năm 1980 và đầu 1990s là thời kỳ ông cho ra đời bộ sách 2 tập nổi tiếng nhất của mình là: Southeast Asia in the age of commerce (Sẽ nói thêm ở dưới đây). Năm 1999, Tony và Helen rời Canberra để đến Los Angeles, nơi ông nhận nhiệm vụ thành lập và thiết lập định hướng cho Centre for Southeast Asian Studies tại University of California, Los Angeles. Tiếp đó, giáo sư Wang Gungwu và Đại học quốc gia Singapore (NUS) lại mời Tony đến Singapore để nắm vai trò thành lập, điều hành và thiết lập định hướng nghiên cứu cho Asia Research Institute (ARI), trực thuộc NUS. Với tầm ảnh hưởng của mình, Tony nhanh chóng thu hút được rất nhiều các học giả lớn của thế giới hội tụ về Singapore, và cùng với các trung tâm học thuật khác của Singapore như NUS, ISEAS, thì ARI đã góp phần giúp Singapore trở thành một trong những trung tâm học thuật lớn của thế giới về Đông Nam Á, nơi thường xuyên quy tụ của các học giả world-class. Năm 2009, ông rời Singapore và trở về Australia.

Một số giải thưởng lớn mà A.Reid đã vinh dự được nhận như: “Distinghuished Contribution to Asian studies” bởi Association of Asian Studies của Mỹ; Corréponding fellow của British Academy (2008); corresponding member của Royal Historical Society (1997) và Fellow of the Australian Academy of the Humanities (1987); Academic Prize của giải thưởng Fukuoka Asian Culture Prizes (2002)

2. Anthony Reid và “Southeast Asia in the age of commerce”/ “Đông Nam Á trong kỷ nguyên thương mại”

Giới nghiên cứu đã khá quen thuộc với luận điểm về một “thời đại thương mại” được đề xuất bởi Anthony Reid để nói về lịch sử khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ 1400 đến 1680. Anthony Reid cho rằng kỷ nguyên thương mại có nguồn gốc từ những thay đổi đã diễn ra trong suốt thế kỷ XV. Sự bùng nổ của thương mại và sự nổi lên của các cảng thị như là những trung tâm thương mại đã thúc đẩy những thay đổi về mặt chính trị, xã hội và kinh tế đánh dấu kỷ nguyên thương mại trong khu vực, kéo dài từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII. Sự bùng nổ của hải thương dẫn đến sự trỗi dậy của thuyền mành Đông Nam Á cũng như là những kỹ thuật hàng hải mới… Một số biểu hiện về mặt xã hội khác của kỷ nguyên thương mại còn bao gồm một cuộc cách mạng về tôn giáo, với sự thâm nhập của Hồi giáo và Thiên chúa giáo vào khu vực, một cuộc cách mạng về quân sự với các kỹ thuật chiến tranh mới hỗ trợ cho sức mạnh của các thể chế mới.  Theo A.Reid, khoảng năm 1400 sự phát triển kinh tế ở Đông Nam Á đã được thúc đẩy bởi nhu cầu về gia vị, hồ tiêu và các sản phẩm khác từ vùng quần đảo. Ông cho rằng, trong suốt thời kỳ này, các cá nhân và các nhà nước ở Đông Nam Á “đã có thể hưởng lợi lớn từ thương mại quốc tế thông qua việc thích ứng trước những nhu cầu đang thay đổi”. (Anthony Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce, 2 vols, 1988-1993).

Trong công trình này, Reid đã cùng với Denys Lombard coi Đông Nam Á thời tiền thực dân như một “Địa Trung Hải của Á Châu”/ ‘Asian Mediterranean’, dựa theo tầm nhìn của Fernand Braudel coi Địa Trung Hải như một khu vực với rất nhiều các mối tương tác về thương mại, văn hoá và xã hội. Nếu như thế hệ các học giả Tây phương đầu tiên quan tâm tới Đông Nam Á đã lưu tâm tới sự hiện diện và tầm quan trọng của các yếu tố từ nền văn minh Ấn Độ. Các thuật ngữ như Further India, indonesia, Insuline hay Indochina ra đời phản ánh tầm nhìn coi Đông Nam Á như một khu vực thuộc về các nền văn minh láng giềng vĩ đại (Ấn Độ, Trung Hoa). Majumdar đã đi xa hơn khi kể về quá trình thực dân của Ấn Độ tại Đông Nam Á. Cái mentality phía sau những công trình này, đó là coi Đông Nam Á như những người tiếp nhận một cách thụ động các nền văn hoá ở đẳng cấp cao hơn. Một tầm nhìn như vậy, sau đó đã bị đặt câu hỏi bởi chính các học giả thực dân, trong đó nổi bật là những nghiên cứu của Van Leur và Paul Mus. Năm 1934, Van Leur – khởi nguồn cho autonmous approach đối với lịch sử Đông Nam Á (sau này được phát triển bởi J.Smail và các thế hệ học giả tiếp nối), đã cho rằng các cách nhìn nhận như Ấn Độ Hoá/Indianization, Hán Hoá/Sinicization, Hồi giáo Hoá/Islamification hay Phương Tây Hoá/Westernization đã quá đề cao các nhân tố bên ngoài đối với lịch sử khu vực Đông Nam Á. Ông nêu lên một luận điểm, mà sau này được xem như một trích dẫn kinh điểm, các ảnh hưởng từ bên ngoài đó không gì hơn là “thin and flaking glaze” đối với những sự tiếp nối về cấu trúc và văn hoá sâu sắc bên trong bản thân các xã hội Đông Nam Á. (Có thể hiểu cụm từ đó như là: một lớp men bao phủ mỏng và dễ bong).

Anthony Reid đã trở thành một trong những người tiên phong trong việc đi tìm một cách phân tích/lý giải sâu sắc hơn về vị trí của các nhân tố ngoại sinh trong các nền văn hoá của Đông Nam Á. Lập luận chính của ông là Văn hoá Đông Nam Á đã tuyển lựa một cách có chọn lọc các ý tưởng ngoại sinh. Các ý tưởng đến từ thế giới bên ngoài, đó là sự thực, nhưng các thuật ngữ đã được quyết định bởi chính người Đông Nam Á và để phục vụ cho xã hội Đông Nam Á. Có nghĩa là cư dân Đông Nam Á không phải chỉ là những người tiếp nhận thụ động với các ý tưởng từ bên ngoài, mà là họ đã nắm giữ những vai trò chủ động trong việc tiếp nhận, lựa chọn các yếu tố và bản địa hoá nó để phục vụ cho xã hội của mình.

Sau khi bộ công trình này được xuất bản, tên tuổi của A.Reid đã trở nên nổi tiếng rộng khắp trong giới nghiên cứu về Đông Nam Á trên toàn thế giới. Bộ sách này cũng trở thành một trong những công trình-phải-đọc-và-thảo-luận của sinh viên sau đại học về lịch sử Đông Nam Á ở rất nhiều trung tâm học thuật lớn. Cho đến nay cuốn sách đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng để phục vụ các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cuốn sách cũng đã nhận được một số phản hồi và tranh luận từ nhiều nhà khoa học, trong đó đặc biệt là của GS Barbara Andaya tranh luận về nguồn tư liệu/sources được sử dụng trong nghiên cứu của A.Reid, cũng như là tính thống nhất/unity của Đông Nam Á với nghĩa bao gồm cả vùng lục địa và hải đảo; cùng với đó là câu hỏi về tính xác thực của “Cuộc khủng hoảng vào thế kỷ 17″/ Seventeenth century crisis, liệu có đúng với toàn bộ Đông Nam Á hay không? Giáo sư Victor Lieberman cũng đã có những tranh luận về vai trò của Hải thương đối với sự phát triển của lịch sử các quốc gia tiền hiện đại ở Đông Nam Á; nếu như A.Reid dường như tuyệt đối hoá vai trò của hải thương đối với sự phát triển của Đông Nam Á (Cả lục địa và hải đảo), thì Lieberman cho rằng, hải thương/ngoại thương chỉ là một yếu tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của lịch sử ĐNA cùng với rất nhiều yếu tố khác về mặt chính trị, văn hoá, kỹ thuật…

Công trình “Southeast Asia in the age of commerce” của A.Reid cũng đã trở thành một trong những động lực thúc đẩy hướng nghiên cứu mới về lịch sử Việt Nam, nghiên cứu về ngoại thương của Việt Nam, hay là một cách tiếp cận lịch sử Việt Nam từ phía biển/ A view from Sea như cách mà Li Tana, Charles Wheeler hay Momoki Shiro đã thực hiện. Những công trình được xuất bản trong những năm 1990s, 2000s hay gần đây về Việt Nam đã cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của “Southeast Asia in the age of commerce” đến các nghiên cứu đó. Trong bối cảnh đó, công trình của A.Reid đã từng bước thâm nhập vào Việt Nam và cũng đã có những tác động sâu sắc đến sự phát triển của nền sử học Việt Nam trong những năm gần đây

3. Anthony Reid và nền sử học Việt Nam

Rất nhiều công trình nghiên cứu lịch sử của Việt Nam gần đây đã thể hiện rõ tính hội nhập với nền học thuật quốc tế, trong đó có việc tiếp nhận và áp dụng lý thuyết của A.Reid vào nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời tiền hiện đại. Tuy nhiên, trong bài viết nhỏ này, tôi chỉ tập trung vào ảnh hưởng của các công trình của A.Reid đến một sự hình thành và phát triển của một nhóm nghiên cứu cụ thể, qua đó cho thấy sự chuyển biến và từng bước hội nhập của các nghiên cứu sử học ở Việt Nam vào nền học thuật quốc tế.

Nhóm nghiên cứu Thương mại Châu Á đã manh nha hình thành từ đầu những năm 2000, và người khởi xướng, định hướng, trực tiếp tuyển chọn và đào tạo các thành viên là thầy Nguyễn Văn Kim của bộ môn Lịch sử Thế giới, Khoa Sử trường Nhân Văn, Hà Nội. Chính trong quá trình được đào tạo và học tập tại Nhật Bản, thầy đã được tiếp cận với các chuyên gia lớn về lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á của Nhật Bản, từ đó được tiếp cận với các nguồn tư liệu quốc tế, các trào lưu và các trường phái nghiên cứu đương đại của quốc tế. Nhật Bản là một quốc đảo, và họ có một truyền thống hải thương lâu dài và vĩ đại. Chính vì thế, nghiên cứu lịch sử hải thương có thể được xem như là một trong những ưu tiên và thế mạnh của giới sử học chuyên nghiệp Nhật Bản. Trong bối cảnh đó, công trình nghiên cứu của Anthony Reid đã được đón nhận rộng rãi và trở thành một trong những tài liệu tham khảo quan trọng của các nhà nghiên cứu. Và chính từ Nhật Bản, trong thời gian này, các công trình nghiên cứu quan trọng và các tranh tranh luận học thuật của các học giả quốc tế đã từng bước được truyền bá về Việt Nam và từng bước được áp dụng trong chương trình giảng dạy của bộ môn Lịch sử Thế giới.

Từ khoảng năm 2003, một số chuyên đề và môn học mới về Thương mại Biển Đông đã được giảng dạy tại bộ môn. Cũng từ đây, các sinh viên của bộ môn được định hướng ngay từ đầu nghiên cứu về lịch sử thương mại của Việt Nam và khu vực. Với nguồn cung cấp chính từ Thầy Kim và các thư viện của Khoa Sử, của bảo tàng Nhân học…, chúng tôi đã được tiếp cận với những công trình nghiên cứu lớn của các học giả quốc tế. Trong số đó, “Southeast Asia in the age of commerce” của Anthony Reid và “Maritime trade and state development” của K.Hall, cùng với một số bài nghiên cứu lý thuyết của thầy Sakurai Yumio, Momoki Shiro… đã trở thành những tài liệu gối đầu giường của các sinh viên bộ môn. Và đây cũng chính là những nguồn tài liệu nước ngoài đầu tiên mà chúng tôi được tiếp cận, để từ đó mở rộng và phát triển thêm. Có thể nói không quá rằng, chính các công trình của Anthony Reid, K.Hall, Sakurai Yumio, Momoki Shiro… đã đặt nền tảng lý thuyết đầu tiên cho sự ra đời và phát triển ban đầu của Nhóm Nghiên cứu Thương mại Châu Á.

Trên cơ sở những kiến thưc thu được về lịch sử hải thương khu vực từ các tài liệu đó, chúng tôi được thầy Kim và Bộ môn phân công nghiên cứu về các chủ đề cụ thể và các khu vực cụ thể; chẳng hạn có người nghiên cứu về người Hoa ở Đông Nam Á và Việt Nam/Chinese Oversea, có người nghiên cứu về Malacca như là một đế quốc biển ở Đông Nam Á, có người nghiên cứu về Nhà Minh và Đông Nam Á, có người nghiên cứu về các công ty Đông Ấn châu Âu ở Đông Nam Á và Việt Nam, có người nghiên cứu về Java và Indonesia, có người nghiên cứu về Lưu Cầu/Ryukyu, có người nghiên cứu về lịch sử hải thương của Champa… Điểm chung của các hướng nghiên cứu của các thành viên trong Nhóm ban đầu là Lịch sử hải thương của khu vực, từ đó hướng tới mục đích là làm sáng rõ tiềm năng, vị trí và vai trò của các thương cảng nói riêng và của Việt Nam nói chung trong mạng lưới hải thương khu vực và quốc tế. Với định hướng phát triển lâu dài, các thành viên trong nhóm được yêu cầu phải sử dụng được tiếng Anh cùng với một tiếng bản địa của nơi mà mình nghiên cứu (Có lẽ với yêu cầu này mà số lượng sinh viên lựa chọn chuyên ngành lịch sử Thế giới không phải là nhiều).

Các thành viên của nhóm, sau đó được giới thiệu đến các chuyên gia uy tín trong lĩnh vực mà mình quan tâm và chính sự tham gia đào tạo của các chuyên gia uy tín tại các trung tâm học thuật này đã góp phần quan trọng vào việc phát triển của Nhóm. Một số thành viên của Nhóm, với sự giúp đỡ của các thầy và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đã có cơ hội để được tham gia các hội thảo quốc tế, được tham gia các khoá đào tạo ngắn hạn ở ngoài nước, cũng như là làm thạc sĩ, tiến sĩ ở một số trường đại học quốc tế… Trên cơ sở đó, những lý thuyết mới và những công trình nghiên cứu mới lại được gửi về Việt Nam và đảm bảo rằng các sinh viên của bộ môn luôn được cập nhật những kiến thức mới. Giờ đây, việc đọc và thảo luận các công trình và bài viết của Anthony Reid, Victor Lieberman, Geoff Wade, Momoki Shiro… đã trở thành một phần trong quá trình học của sinh viên bộ môn

Trong lĩnh vực nghiên cứu, Nhóm nghiên cứu Thương mại Châu Á cũng đã bước đầu đạt được những kết quả nghiên cứu đáng khích lệ. Các thành viên của Nhóm đã tham gia và có vai trò quan trọng trong một số hội thảo quốc tế như: Việt Nam trong hệ thống thương mại Đông Á (2007); Thương cảng quốc tế Vân Đồn (2008)… Một số công trình nghiên cứu đã được xuất bản cùng với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như: Việt Nam trong hệ thống thương mại Đông Á (2007); Người Việt với Biển (2011)… Các thành viên của Nhóm đã thường xuyên tham dự và trình bày tại hội thảo quốc tế…

Như thế, các công trình nghiên cứu của các học giả quốc tế, đặc biệt là của Anthony Reid, đã từng bước được truyền bá vào Việt Nam và được các nhà nghiên cứu Việt Nam tiếp nhận, học hỏi và áp dụng vào trường hợp Việt Nam. Thông qua việc tiếp nhận các công trình nghiên cứu của các học giả quốc tế, cũng như việc tiếp xúc, trao đổi và học hỏi từ các nhà nghiên cứu quốc tế đã từng bước dẫn tới sự hình thành các xu hướng nghiên cứu mới, các học phái trong giới sử học Việt Nam. Bên cạnh những hướng nghiên cứu truyền thống và đã đạt được nhiều thành tựu, thì các xu hướng nghiên cứu mới cũng sẽ hứa hẹn mang lại sức sống và sự phát triển hơn nữa cho nền sử học của Việt Nam.

Trên đây tôi chỉ viết về bộ môn Lịch sử Thế giới của Khoa sử, trường Nhân Văn Hanoi và Nhóm nghiên cứu Thương mại Châu Á, đó là những nơi tôi đã trực tiếp được đào tạo, được học và được trực tiếp chứng kiến. Tôi được biết là các trung tâm sử học khác ở Việt Nam như Viện Sử học, Khoa sử Sư phạm 1 và nhiều trung tâm khác cũng đã và đang có những chuyển biến sâu sắc trong việc tiếp nhận các kết quả nghiên cứu của các học giả quốc tế và áp dụng nó vào chương trình giảng dạy, đao tạo và nghiên cứu của trung tâm mình. Không ít các giảng viên trẻ và các nhà nghiên cứu trẻ đang học tập và được đào tạo tại các trung tâm sử học lớn của thế giới, chính những người này, cùng với các nhà nghiên cứu tiền bối, sẽ có những vai trò nhất định trong việc kết nối giữa nền sử học VN với nền sử học quốc tế trong tuơng lai và đảm bảo rằng nền sử học Việt Nam không bị tách biệt với sự phát triển chung của nền sử học quốc tế.

Tất cả những điều tôi viết ở trên chỉ để chứng minh rằng, không phải nền sử học Việt Nam đã chết.

By: Do Truong Giang

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s