KỶ NGUYÊN THƯƠNG MẠI SỚM Ở ĐÔNG NAM Á (900-1300 CE): NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP MANDALA CHAMPA – PART 1

By: Do Truong Giang National University of Singapore (NUS) [1]

Download toàn bộ bài viết TẠI ĐÂY

Kỷ nguyên thương mại sớm ở Đông Nam Á (900-1300 CE)

                  Giới nghiên cứuđã khá quen thuộc với luận điểm về một “thời đại thương mại” được đề xuất bởi giáo sư nổi tiếng Anthony Reid để nói về lịch sử khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ 1400 đến 1680.[2] Theo A.Reid, khoảng năm 1400 sự phát triển kinh tế ở Đông Nam Á đã được thúc đẩy bởi nhu cầu về gia vị, hồ tiêu và các sản phẩm khác từ vùng quần đảo. Ông cho rằng, trong suốt thời kỳ này, các cá nhân và các nhà nước ở Đông Nam Á “đã có thể hưởng lợi lớn từ thương mại quốc tế thông qua việc thích ứng trước những nhu cầu đang thay đổi”.[3] Thời gian gần đây, Geoff Wade đã sử dụng thuật ngữ kỷ nguyên thương mại sớm (an early age of commerce) để diễn tả một bối cảnh chung mang tính phổ quát của lịch sử khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ năm 900 đến 1300. Geoff Wade cho rằng, trong suốt thời kỳ này, những sự thay đổi lớn lao về triều đại cũng như các chính sách khuyến khích ngoại thương ở Trung Hoa, Nam Á và vùng Trung Đông (Tây Á) cũng như những phát triển nội tại của khu vực Đông Nam Á đã dẫn tới một môi trường thuận lợi để thúc đẩy các hoạt động thương mại biển, và hệ quả là đã dẫn tới sự xuất hiện của các cảng thị ven biển mới và một số thay đổi về chính trị và xã hội ở các nước Đông Nam Á.[4] Trước đó, J.W.Christie cũng chia sẻ nhiều ý kiến tương đồng với G.Wade và đã định danh thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII như là thời đại bùng nổ thương mại Á Châu (Boom of Asian maritime trade”. [5]

Theo G.Wade thì có ba nguyên nhân chính dẫn tới sự bùng nổ của các hoạt động hải thương trên vùng biển của Đông Nam Á trong giai đoạn này, trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh tới những biến chuyển lớn ở các trung tâm kinh tế lớn của khu vực châu Á, bao gồm: (1) các chính sách khuyến thương (commercial-supported policies) và các tác động của chúng ở Trung Quốc, (2) sự phát triển của mạng lưới thương nhân Arab trên khắp các vùng biển của châu Á, và (3) sự mở rộng của cộng đồng thương nhân Tamil ở Đông Nam Á và Nam Trung Hoa.

1). Sự thống nhất của Trung Hoa dưới triều đại Tống (960 A.D.) và các chính sách được thực thi sau đó của các vương triều Tống đã có những tác động sâu sắc tới hệ thống hải thương Á Châu. Triều đại Tống được thừa nhận rộng rãi như một trong những vương triều thành công nhất của Trung Hoa trong việc thúc đẩy cũng như kiểm soát các hoạt động hải thương. Geoff Wade cho rằng sự tồn tại của các triều đại bắc và nam Tống từ năm 960 đến 1279 đã “tạo nên một thời kỳ phát triển thương mại và công nghiệp mạnh mẽ ở Trung Hoa, lớn đến mức những thay đổi diễn ra trong giai đoạn này đã được xem như cuộc cách mạng kinh tế thời trung đại (medieval economic revolution)”. [6] Một số chính sách đã được ban hành nhằm kiểm soát và thúc đẩy sự phát triển của các cảng thị miền Nam Trung Hoa, đặc biệt là cảng ở vùng Quảng Châu. Các vua nhà Tống cũng đã ban hành các chính sách khuyến khích các thương nhân ngoại quốc đến và thực hiện công việc trao đổi buôn bán ở các cảng thị Nam Trung Hoa. Một ví dụ điển hình là năm 987, triều đình Trung Hoa đã gửi bốn phái bộ ngoại giao với quốc thư của hoàng đế để khuyến khích “các thương nhân ngoại quốc vùng Nam Dương…đến và buôn bán tại các cảng thị nam Trung Hoa”. [7]

Triều đình nhà Tống cũng đã khuyến khích các nước láng giềng phương nam gửi các phái bộ ngoại giao và triều cống tới Trung Hoa. Thông qua việc đó, triều đình Trung Hoa nhận được những nguồn thu lớn qua các hàng hóa cống phẩm được gửi tới, cũng như là khẳng định vị thế của Trung Hoa đối với các nước láng giềng (mà Trung Hoa luôn xem như là những phiên quốc hay các chư hầu nằm dưới sự bảo trợ của triều đình). Đồng thời, hệ thống triều cống cũng mang lại những lợi ích thiết thực và quan trọng cho các phái bộ triều cống của các nước cả về mặt chính trị và kinh tế. Trong một công trình được công bố gần đây, nhà nghiên cứu Mukai Masaki cho rằng, đã có một sự bùng nổ (boom) các phái bộ triều cống đến từ các chính thể của vùng biển Nam Dương tới Trung Hoa trong suốt thời kỳ nhà Tống. [8] Theo đó thì, sự bùng nổ của các phái bộ triều cống này đã phản ánh “sự tái thiết lập của toàn thể mạng lưới hải thương”.[9] Masaki cũng chỉ ra rằng một số lượng lớn các phái đoàn triều cống tới triều đình Trung Hoa đã được thực hiện bởi các thương nhân đến từ biển (sea-traders), đặc biệt là các phái bộ đến từ Dashi (các nước Arab và Ba Tư). Các nước và các thương nhân hải ngoại mong muốn dự nhập vào mạng lưới triều cống của Trung Hoa bởi vì các Hoàng đế Trung Hoa thường đáp lại với những món quà/món hàng với giá trị tương đương và thậm chí là cao hơn nhiều so với giá trị của các món hàng triều cống. Hơn nữa, dự nhập vào mạng lưới triều cống này cũng mang lại những cơ hội cho các thương nhân ngoại quốc cơ hội để thực hiện việc trao đổi buôn bán và thu thập hàng hóa nội địa của Trung Quốc với mức giá thấp và không phải nộp thuế.

Vào đầu thế kỷ thứ XIII, thương cảng Quảng Châu, cảng thị quan trọng nhất ở miền nam Trung Hoa bước vào giai đoạn khủng hoảng. Sự khủng hoảng này là kết quả của một quá trình xung đột và chuyển giao giữa triều Nam Tống và nhà Nguyên. Hệ quả là, hầu hết các thương nhân ngoại quốc đã rời khỏi các cảng ven biển nam Trung Hoa để tới các trung tâm buôn bán khác. Sauk hi kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa, triều Nguyên bắt đầu mở rộng sức mạnh trên biển của mình. Kublai Khan đã thiết lập quyền lực của mình ở vùng duyên hải nam Trung Hoa, thiết lập một số lượng lớn các cơ quan kiểm soát tàu buôn và thương nhân ngoại quốc tại các cảng thị nhằm kiểm soát việc trao đổi buôn bán trên biển. Thương cảng Quảng Châu và các cảng thị khác vùng nam Trung Hoa lại bắt đầu hồi sinh và trở nên thịnh vượng dưới triều Nguyên và triều Nguyên đã được xem như là một “bước ngoặt” (turning point) của lịch sử thương mại biển châu Á.[10]

Trong một chuyên khảo về lịch sử hải thương Đông Nam Á, giáo sư Sakurai Yumio cũng nhấn mạnh tới vai trò của thị trường Trung Hoa đối với sự phát triển của thương mại biển khu vực Đông Nam Á. Ông cho rằng “Sự biến đổi quan trọng nhất thời kỳ này là sự hưng thịnh của các đô thị ở Trung và Nam Trung Quốc. Sự phát triển đó cần tới sự buôn bán trên biển. Về mặt kỹ thuật, thuyền buồm lớn xuất hiện ở các vùng phía nam Trung Quốc. Sức chở của loại thuyền này tăng lên rất nhanh chóng và hải trình của chúng cũng thay đổi từ cận hải đến viễn dưỡng. Hàng hóa chuyên chở cũng bắt đầu thay đổi từ những hàng hóa nhẹ, quý như tơ lụa sang những loại hàng nặng như đồ sứ, từ những đồ xa xỉ như dầu thơm sang những vật dụng đại chúng hơn như giấy”.[11] Chính những sự thay đổi về kỹ thuật hàng hải cũng như những thay đổi về nhu cầu của các mặt hàng trao đổi ở các thị trường lớn…đã dẫn đến sự thay đổi của các tuyến hải thương khu vực, đặc biệt là các tuyến giao thương vận hành trên các vùng biển Đông Nam Á. Chính sự thay đổi của các dòng chuyển vận giao thương như vậy đã có những tác động trực tiếp và sâu sắc tới sự hưng thịnh và suy vong của các tiểu quốc vùng Đông Nam Á.

2). Nhân tố ngoại sinh thứ hai đã có những tác động sâu sắc tới toàn bộ khu vực Đông Nam Á đó là vai trò tích cực ngày càng trở nên mạnh mẽ của các thương nhân Arab, những người nắm giữ và kiểm soát sự vận hành của các tuyến hải thương ở khu vực Nam và Đông Nam Á. Từ các trung tâm ban đầu ở Konkan và Gujarat, các cư dân Ba Tư và Arab đã dần dần mở rộng lãnh thổ của họ về phía đông và chiếm cứ các tuyến hải thương dọc theo bờ biển Ấn Độ Dương vào thế kỷ thứ IX. Các thương nhân Arab sau đó đã mở rộng mạng lưới hoạt động của mình tới khu vực Đông Nam Á và nam Trung Hoa vào thế kỷ thứ X.[12] Dựa trên các nguồn tư liệu lịch sử, Geoff Wade cho rằng “đến cuối thế kỷ XII, hoạt động hải thương ở vùng biển phương nam trên thực tế đã nằm trong tay các thương nhân Hồi giáo”. [13] Đến thế kỷ XIII, các thương nhân Arab tiếp tục nắm giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tuyến hải thương nối kết Trung Hoa với Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á.

3).Nhân tố thứ ba tác động tới khu vực Đông Nam Á từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV là sự mở rộng hoạt động của các mạng lưới thương nhân gốc Tamil (vùng Đông Nam Ấn Độ) cùng với sự thịnh vượng của vương quốc Chola ở bờ biển đông nam Ấn Độ. Nổi lên như một vương quốc biển lớn ở bờ biển Ấn Độ vào năm 985, vương quốc Cholas sau đó đã mở rộng lãnh thổ cả trong vùng lục địa rộng lớn cũng như trên các đại dương. Các vua Cholas đã khuyến khích các hoạt động giao thương trên biển và đã dự nhập tích cực vào hệ thống hải thương từ biển Địa Trung hải và Ba Tư ở phía Tây đến vùng Đông Nam Á và nam Trung Hoa. Hermann Kulke đã nhìn nhận sự nổi lên của vương quốc biển Chola và vai trò tích cực của các thương nhân Tamil, sự xung đột/cạnh tranh giữa vương quốc Cholas và vương quốc Srivijaya vào thế kỷ thứ XI như là một “sự trỗi dậy của các cường quốc mới, sự chuyển dời của các tuyến hải thương, và, hệ quả của quá trình này, là một sự cạnh tranh để phân chia thị trường”. [14]

Như thế, ba nhân tố chính đã tác động trực tiếp và sâu sắc tới toàn thể khu vực Đông Nam Á trong kỷ nguyên thương mại sớm bao gồm sự hồi sinh của thị trường Trung Hoa dưới thời nhà Tống và Nguyên, sự mở rộng các mạng lưới của thương nhân Arab/hồi giáo và sự trỗi dậy của vương quốc biển Chola. Đây đồng thời cũng chính là các thị trường kinh tế lớn của thế giới, và hệ quả là, tuyến hải thương kết nối ba trung tâm kinh tế này đi qua vùng biển Đông Nam Á đã trở thành một trong những tuyến hải thương năng động và quan trọng nhất của thế giới đương thời. Sự thịnh vượng của mạng lưới hải thương này đã mang lại những cơ hội thuận lợi cho các chính thể của khu vực Đông Nam Á để dự nhập vào thị trường quốc tế và thu lợi từ việc trao đổi buôn bán với thế giới bên ngoài. Srivijaya, Champa – những thể chế biển điển hình của khu vực Đông Nam Á đã tận dụng môi trường thuận lợi này để tích cực dự nhập vào mạng lưới khu vực bằng việc cung cấp các nguồn hàng bản xứ, các cảng thị ven biển thuận lợi, cũng như cố gắng chiếm cứ các tuyến hải thương.

Geoff Wade cho rằng, trong bốn thế kỷ từ 900 đến 1300 CE đã diễn ra “một số những thay đổi về thương mại và tài chính ở Trung Hoa, Nam Á, vùng Trung Đông (Tây Á) và nội vùng Đông Nam Á, đã thúc đẩy mạnh mẽ nền hải thương, dẫn tới sự hình thành của các thương cảng và các trung tâm đô thị mới, sự chuyển dịch của các kinh đô hành chính về phía các bờ biển, sự gia tăng dân số, gia tăng các mối liên hệ trên biển giữa các cộng đồng cư dân, sự bành trướng/mở rộng của Phật giáo Theravada và Islam, gia tăng việc đúc tiền/lưu hành tiền tệ, các ngành sản xuất mới, hình thức tiêu thụ mới và các tổ chức phụ trách các hoạt động trên biển mới”. Từ đó Geoff Wade đề xuất rằng “thời kỳ từ năm 900 đến năm 1300 có thể được xem như là kỷ nguyên thương mại sớm trong lịch sử khu vực Đông Nam Á”.[15] Biểu hiện chính của một kỷ nguyên thương mại sớm đó là sự đột khởi các hoạt động giao thương trên biển diễn ra tại các trung tâm kinh tế lớn, cũng như các tuyến hải thương. Bên cạnh sự gia tăng thương mại, “chúng ta còn thấy sự nổi lên của các thương cảng và/hoặc các chính thể trọng thương mới (new trade-based polities) như là các cảng thị trên đảo Sumatra, các cảng thị mới trên bán đảo [Malay], cảng Thi Nại (Quy Nhơn ngày nay) ở tiểu quốc Vijaya (Champa), thương cảng Vân Đồn của người Việt và các cảng của Java, tất cả đều diễn ra từ thế kỷ XI đến thế kỷ XII”.[16] Một bằng chứng nữa cho thấy sự đa dạng của các loại hàng hóa trao đổi giữa các cảng thị ngày càng trở nên rõ ràng đó là việc khai quật các tàu đắm trên các vùng biển Đông Nam Á. Có năm tàu đắm cung cấp cho chúng ta những thông tin về giao thương Đông Nam Á nằm trong khoảng thời gian từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIII và theo G.Wade thì “tất cả đều được liên hệ với các cảng ở Đông Nam Á, và chuyên chở hàng hóa từ Đông Nam Á, Trung Quốc, Trung Đông và Nam Á: Tàu đắm Batu Hitam gần đảo Belitung của Indonesia (thế kỷ IX), tàu đắm Cirebon (thế kỷ X), tàu đắm Intan (thế kỷ X), tàu đắm Pulau Buaya (thế kỷ XII/XIII) và tàu đắm trên biển Java (thế kỷ XIII)”.[17]

Geoff Wade cho rằng, sự diễn ra đồng thời của những thay đổi bên ngoài khu vực và những thay đổi nội tại của khu vực Đông Nam Á đã “mang đến một môi trường thuận lợi cho sự bùng nổ của hải thương, và sự bùng nổ của hải thương đã dẫn đến những biến chuyển về chính trị, xã hội và kinh tế trên toàn khu vực”.[18] Những chuyển biến mang tính phổ quát (generic changes) mà sự bùng nổ thương mại đã mang đến cho các chính thể, các nền kinh tế và các xã hội Đông Nam Á trong thời kỳ từ thế kỷ X đến XIII bao gồm: Sự chuyển dời của các trung tâm hành chính gần hơn về phía bờ biển nhằm thu lợi và kiểm soát hải thương mại biển; Sự nổi lên của các cảng thị mới như là những entrepot cho sự bùng nổ về hải thương; Sự gia tăng dân số; Sự gia tăng các mối liên hệ trên biển giữa các cộng đồng cư dân; sự thâm nhập của các tôn giáo mới; sự gia tăng hoạt động đúc/lưu thông tiền tệ; sự phát triển của các trung tâm sản xuất gốm; sự phát triển của ngành sản xuất dệt; các cuộc chiến tranh có liên quan tới thương mại biển; các phương thức tiêu thụ mới; và cuối cùng là sự nổi lên của các tổ chức phụ trách các hoạt động trên biển mới…[19]

Trước đó, trong công trình nổi tiếng Strangle Parallels của mình, giáo sư Victor Lieberman đã nhấn mạnh rằng, trước năm 1350 thì thương mại biển tương đối không quan trọng đối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là các nước Đông Nam Á lục địa. Chẳng hạn, trong trường hợp của Đại Việt, V.Lieberman cho rằng, ở châu thổ sông Hồng trong thời kỳ này, hải thương chỉ như là một tác động ngoại vi đối với vấn đề dân số hay sản xuất ở nông thôn.[20] Dựa trên những cứ liệu lịch sử về sự phát triển của hải thương khu vực trong kỷ nguyên thương mại sớm, Geoff Wade cho rằng, quan điểm của V.Lieberman “cần được xem xét lại nhằm nhận thức lại tầm quan trọng cũng như sự hưng khởi của hải thương trong suốt thời kỳ này, và những thay đổi về mặt xã hội có thể được liên hệ với vấn đề thương mại”.[21] Trong bài viết này, chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu trường hợp mandala Champa trong kỷ nguyên thương mại sớm, khảo sát những phát triển nội tại của mandala Champa, cũng như các mối liên hệ khu vực khác của vương quốc này nhằm tìm hiểu những tác động của sự phát triển hải thương khu vực đối với những diễn biến của lịch sử mandala Champa trong thời kỳ này.


[1] Những ý tưởng cơ bản của bài viết đã được trình bày lần đầu tiên tại TWENTIETH ANNUAL WORLD HISTORY ASSOCIATION CONFERENCE, tổ chức tại GLOBAL HISTORY CENTER, CAPITAL NORMAL UNIVERSITY, Beijing, China, 7-10 July 2011. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Đại học Osaka (Osaka University) đã đài thọ mọi kinh phí để tác giả có cơ hội góp mặt tại Hội thảo và trình bày báo cáo của mình. Trong quá trình hoàn thiện bài viết, tác giả đã nhận được những ý kiến đóng góp và những ý tưởng quan trọng của GS Momoki Shiro, GS Bruce Lockhart, TS Geoff Wade, TS Masaki Mukai và hai nhà nghiên cứu Mohamed Effendy và Morragotwong Phumplab. Nhân đây, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với những ý kiến đóng góp quý báu ấy. Phiên bản tiếng Việt của bài viết đã được đăng trong sách: Người Việt với biển, do PGS.TS Nguyễn Văn Kim chủ biên, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2011.

[2] Anthony Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce, 1450-1680: The Lands Below the Winds. New Haven: Yale University Press, 1993; và Southeast Asia in the age of commerce: 1450-1680: Expansion and crisis. New Haven: Yale University Press, 1993. Anthony Reid cho rằng kỷ nguyên thương mại có nguồn gốc từ những thay đổi đã diễn ra trong suốt thế kỷ XV. Sự bùng nổ của thương mại và sự nổi lên của các cảng thị như là những trung tâm thương mại đã thúc đẩy những thay đổi về mặt chính trị, xã hội và kinh tế đánh dấu kỷ nguyên thương mại trong khu vực, kéo dài từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII. Sự bùng nổ của hải thương dẫn đến sự trỗi dậy của thuyền mành Đông Nam Á cũng như là những kỹ thuật hàng hải mới… Một số biểu hiện về mặt xã hội khác của kỷ nguyên thương mại còn bao gồm một cuộc cách mạng về tôn giáo, với sự thâm nhập của Hồi giáo và Thiên chúa giáo vào khu vực, một cuộc cách mạng về quân sự với các kỹ thuật chiến tranh mới hỗ trợ cho sức mạnh của các thể chế mới.

[3] Anthony Reid, “An ‘age of commerce’ in Southeast Asian History”, in trong Modern Asian Studies 24, 1. Great Britain, 1990, tr.30.

[4] Geoff Wade, “An early age of commerce in Southeast Asia, 900-1300 CE”, in trong Journal of Southeast Asian Studies, 40 (2), National University of Singapore, 2009.

[5] Jan Wisseman Christie, “Javanese markets and the Asian sea trade boom of the Tenth to Thirteenth centuries A.D.”, in trong Journal of the Social and Economic History of the Orient, 41, 3, 1998.

[6] Geoff Wade, “An early age of commerce”, tlđd, tr.222.

[7] Paul Wheatley, “Geographical notes on some commodities involved in Sung maritime trade”, in trong Journal of the Malayan, Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society, 32, 2. Kuala Lumpur, 1959, tr. 393.

[8] Mukai Masaki, “Contacts between empires and entrepots and the role of supra-regional network: Song-Yuan-Ming transition of the Maritime Asia, 960-1405”, trình bày tại The First Congress of the Asian Association of World Historians, Osaka, 2009,tr.2.

[9] Mukai Masaki, “Contacts between empires and entrepots”, tlđd.

[10] Mukai Masaki, “Contacts between empires and entrepots, tlđd, tr.12.

[11] Sakurai Yumio, “Thử phác dựng cấu trúc lịch sử của khu vực Đông Nam Á (thông qua mối quan hệ giữa biển và lục địa)”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á 04/1996, tr.41.

[12] Andre Wick, Al-Hind: The making of the Indo-Islamic world. Vol.2: The slave kings and the Islamic conquest, 11th-13th centuries. New York: Brill, 1997, tr.1.

[13] Geoff Wade, “An early age of Commerce”, tlđd, tr.234.

[14] Hermann Kulke, “The naval expeditions of the Cholas in the context of Asian history”, in trong: Hermann Kulke, K.Kesavapany, Vijay Sakhuaja, Nagapattinam to Suvarnadwipa: Reflections on the Chola Naval expeditions to Southeast Asia, Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2009, tr.3.

[15] Geoff Wade, “An early age of Commerce”, tlđd, tr.221.

[16] Geoff Wade, “An early age of Commerce”, tlđd, tr.239.

[17] Geoff Wade, “An early age of Commerce”, tlđd, tr.239-240.

[18] Geoff Wade, “An early age of Commerce”, tlđd, tr.259.

[19] Geoff Wade, “An early age of Commerce”, tlđd, tr.258-262.

[20] Victor Lieberman, Strange Parallels: Southeast Asia in global context, c.800-1830. Volume 1: Integration on the mainland, Cambridge University Press, 2003, tr.230. Trong một bài viết khác phản hồi những ý kiến của G.Wade, V.Lieberman vẫn bảo lưu quan điểm của mình về một vai trò hạn chế của thương mại biển đối với lịch sử Đông Nam Á trước năm 1350. Theo ông thì “hải thương trên thực tế có thể giải thích cho sức sống về mặt kinh tế và kéo theo là chính trị trong khoảng thời gian 900 đến 1300 ở Champa, vùng bán đảo [Malay] và phần lớn vùng quần đảo; tuy nhiên trường hợp của Trung và Đông Java, Thượng Miến, Angkor và Đại Việt – các khu vực có đông dân số nơi mà nền kinh tế chính trị tập trung một cách căn bản hơn về các nguồn lợi nông nghiệp và nhân lực, nơi mà dân số phát triển và sự thống nhất về mặt chính trị từ năm 900 đến 1300 chịu ảnh hưởng sâu đậm của các nhân tố nội sinh”, tham khảo: Lieberman, “Maritime influences in Southeast Asia, c.900-1300: some further thoughts”, in trong Journal of Southeast Asian Studies, 41(3), 2010, tr.529-539.

[21] Geoff Wade, “An early age of Commerce”, tlđd, tr..263.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s